Xử lý mụn trứng cá ở phụ nữ

Mụn trứng cá là một rối loạn da thường gặp, biểu hiện bằng các dạng nốt, sần viêm và không viêm, thường xuất hiện ở những vùng da có chứa các tuyến nhờn lớn bao gồm mặt, phần ngực trên và lưng.

Mụn trứng cá xảy ra phổ biến nhất ở tuổi thanh thiếu niên, lúc hormon androgen có hoạt tính gây kích ứng các tuyến nhờn trên da. Một số phụ nữ trưởng thành bị mụn trứng cá (từ nhẹ đến vừa) do các biến đổi hormon kết hợp với thai kỳ, chu kỳ kinh nguyệt, hay lúc khởi sự dùng hoặc khi ngưng dùng thuốc uống ngừa thai.

328726.jpeg

Các yếu tố nguy cơ

Rõ ràng là mụn trứng cá (MTC) liên hệ đến các tuyến nhờn. Tuy không nắm rõ cơ chế và nguyên nhân cụ thể của MTC, người ta cũng xác định được một số yếu tố nguy cơ bao gồm:

– Yếu tố gen và di truyền.

– Các thay đổi hormon kết hợp với tuổi thiếu niên, thai kỳ và chu kỳ kinh nguyệt (MTC có khuynh hướng bùng phát trong tuần lễ trước lúc hành kinh).

– Một số thuốc, như corticoid, androgen, thuốc ngừa thai, lithium, isoniazid, phenytoin, phenobarbital.

– Tăng sản vỏ thượng thận, hội chứng buồng trứng đa nang.

– Một số mỹ phẩm và pommat bôi tóc.

– Đổ mồ hôi, cọ xát (do băng đô giữ tóc, ba lô, mũ bảo hộ, cổ áo khít…).

– Nặn mụn.

Chọn lựa trị liệu

Một khía cạnh quan trọng trong việc phòng chống MTC là chăm sóc da: rửa nhẹ nhàng ít nhất 1 – 2 lần mỗi ngày với loại xà phòng nhẹ, không làm khô. Dù dùng liệu pháp nào thì cũng phải mất 6 – 8 tuần trước khi ghi nhận có sự cải thiện bệnh trạng.

Thuốc bôi

Đó là các loại kem, thuốc nước hay xà phòng có chứa benzoyl peroxyd, retinoid (hay adapalen, acid azaleic) hay kháng sinh. Với retinoid, nhằm tránh phản ứng với thuốc, không nên kết hợp với benzoyl peroxyd, và nên khởi đầu với nồng độ thấp (0,025%) ở những diện tích nhỏ trước khi bôi cả vùng mặt. Các tác dụng phụ của retinoid bao gồm: đỏ, tróc da, nhạy cảm với ánh sáng, ảnh hưởng lên thai nhi. Các kháng sinh bôi tại chỗ như clindamycin hay erythromycin được dùng cho các ca MTC nhẹ hay vừa, và có thể kết hợp với benzoyl peroxyd.

Thuốc uống

Các kháng sinh uống như doxycyclin (50 -100 mg, 2 lần/ngày), minocyclin (100 mg/ngày) hay tetracyclin (500 mg, 2 lần/ngày) – có thể kết hợp với thuốc bôi – được chỉ định cho các ca MTC từ vừa đến nặng, nhưng không được sử dụng cho phụ nữ có thai hay cho con bú và trẻ em dưới 9 tuổi (dùng erythromycin 250 mg, 4 lần/ngày).

Isotretinoin, một loại retinoid uống, cần được sử dụng một cách cẩn trọng cho các ca MTC viêm nặng không đáp ứng với các liệu pháp khác. Nó bị chống chỉ định với phụ nữ mang thai. Phụ nữ tuổi sinh đẻ có hoạt động tình dục khi dùng isotretinoin còn được khuyến cáo áp dụng hai biện pháp ngừa thai, mặt khác trước khi dùng cần thử thai, đếm huyết cầu, đo lipid-huyết và khảo sát chức năng gan, và sau đó xét nghiệm lại mỗi tháng một lần. Các tác dụng phụ của isotretinoin bao gồm: viêm môi (90%), tăng triglycerid-huyết (25%), viêm kết mạc, khô mắt, đau cơ – xương, đau khớp, thưa tóc và nhạy cảm ánh sáng (phải dùng kem chống nắng). Khi bị viêm môi, có thể dùng pommat petrolatum (hay vaselin).

Một số thuốc ngừa thai có thể có tác dụng tốt trong điều trị MTC

Ngoại khoa

Người ta cũng sử dụng các kỹ thuật mài mòn bằng bàn chải quay, lột da bằng hóa chất, chuyển ghép từng nhúm da nhỏ và ghép collagen cho các ca sẹo MTC nặng.

Liệu pháp quang học và laser

Quang liệu pháp với các tia đỏ, tia xanh và liệu pháp quang động đang được dùng thử nghiệm. Liệu pháp laser bước đầu được xem là an toàn và hiệu quả.

Theo Khoa h?c ph? thông

Leave a Reply

Fill in your details below or click an icon to log in:

WordPress.com Logo

You are commenting using your WordPress.com account. Log Out / Change )

Twitter picture

You are commenting using your Twitter account. Log Out / Change )

Facebook photo

You are commenting using your Facebook account. Log Out / Change )

Google+ photo

You are commenting using your Google+ account. Log Out / Change )

Connecting to %s

%d bloggers like this: